Muốn con thông minh, khỏe mạnh, ngay trong thời kỳ bào thai người mẹ đã phải chăm sóc một cách chu đáo.




Thậm chí, theo tiến sĩ Lê Thị Hợp, Viện trưởng Viện Dinh dưỡng quốc gia, không phải khi có thai mới bắt đầu cần bổ sung dinh dưỡng. Điều này cần phải được thực hiện từ trước khi mang thai (thậm chí từ tuổi thành niên để giúp cơ thể được hoàn thiện và phát triển tốt trước khi làm mẹ).

Đa dạng dưỡng chất

Khi có thai, tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe của người mẹ có ảnh hưởng trực tiếp đến thai nhi. Nếu thiếu dinh dưỡng, trẻ chậm lớn và tuổi dậy thì cũng muộn hơn so với trẻ đủ dinh dưỡng. Còn nếu thiếu các vi chất dinh dưỡng, làm tăng rủi ro phát triển chiều cao, thiếu i-ốt làm giảm khả năng phát triển trí não, thai chết lưu.

Do đó, khẩu phần ăn của người mẹ cần được cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng để phát triển tốt về cân nặng và chiều cao, hình thành các cơ quan, bộ phận một cách đầy đủ và khỏe mạnh, đặc biệt là các tế bào thần kinh (nếu ăn uống thiếu rau quả tươi, sẽ dẫn tới thiếu acid folic (sinh tố B9) trong vài tháng đầu của thai kỳ, em bé sinh ra có thể bị nứt ống thần kinh tủy sống, một dị tật nghiêm trọng).
Bà mẹ mang thai cần ăn đa dạng các loại thực phẩm, đủ về số lượng và cân đối về chất lượng để có thể tăng 10 - 12 kg trong suốt thai kỳ. Muốn vậy, bà mẹ cần ăn thêm bữa và tăng chất lượng bữa ăn. Những chất dinh dưỡng hay bị thiếu là sắt (có nhiều trong huyết, gan, trứng, nhất là trong lòng đỏ trứng, thịt bò, rau đay, rau dền), chất đạm (thịt, cá, trứng, sữa, các loại đậu...), canxi (sữa, cá loại cá tép nhỏ ăn cả xương, nghêu, sò, ốc, hến...). Đây là những chất quan trọng vì giúp tạo tế bào, mô, máu và xương cho thai nhi. Thai nhi nếu được nuôi dưỡng đầy đủ, khi sinh ra sẽ cân nặng khoảng 3.000 - 3.500 gr và chiều cao sẽ trên 50 cm. Đây là tiền đề cho sự phát triển tốt tầm vóc và trí lực của trẻ sau này.

Ảnh hưởng cả giống nòi

Theo bác sĩ Phó Đức Nhuận, Bệnh viện Phụ sản Trung ương, thai phụ cần phải được ăn no, thèm thức ăn gì thì ăn nấy, không nên kiêng. Trường hợp không ăn được nhiều hơn lúc bình thường, nên cố gắng thay đổi món ăn, thay cách chế biến để ăn cho ngon miệng, tăng cường nghỉ ngơi để bớt tiêu hao năng lượng.

Theo tiến sĩ Hợp, dinh dưỡng bị thiếu hụt bắt đầu từ trong bào thai, ảnh hưởng suốt cuộc đời, đặc biệt là các em gái và phụ nữ, tác động không chỉ cuộc đời một người tức là bản thân của người phụ nữ đó mà cả thế hệ mai sau. Kết quả của nhiều nghiên cứu cho thấy, các bà mẹ thiếu năng lượng sẽ sinh ra những đứa con nhẹ cân (dưới 2,5 kg), suy dinh dưỡng bào thai, ít sữa khiến đứa trẻ sinh ra cũng dễ bị suy dinh dưỡng. Trẻ bị suy dinh dưỡng khi nhỏ, đặc biệt là trong hai năm đầu sau khi sinh, sẽ có nguy cơ cao trở thành những vị thành niên còi cọc. Nữ vị thành niên còi cọc sẽ có nguy có phát triển thành người thấp bé, nhẹ cân và hậu quả là lại sinh ra những trẻ bị suy dinh dưỡng bào thai. Những trẻ có cân nặng sơ sinh thấp lại có nguy cơ suy dinh dưỡng cao hơn. Đây là vòng xoáy luẩn quẩn của quá trình thiếu hụt dinh dưỡng kéo dài.

Theo Eva

Bài viết cùng chủ đề :
-             Mang thai nên ăn cá gì?
-             Tại sao trứng gà tốt cho bà bầu?
-             Phòng bệnh khi bầu bí bằng thực phẩm

Bà bầu có nên "ăn gì mình muốn"?

Muốn con thông minh, khỏe mạnh, ngay trong thời kỳ bào thai người mẹ đã phải chăm sóc một cách chu đáo.




Thậm chí, theo tiến sĩ Lê Thị Hợp, Viện trưởng Viện Dinh dưỡng quốc gia, không phải khi có thai mới bắt đầu cần bổ sung dinh dưỡng. Điều này cần phải được thực hiện từ trước khi mang thai (thậm chí từ tuổi thành niên để giúp cơ thể được hoàn thiện và phát triển tốt trước khi làm mẹ).

Đa dạng dưỡng chất

Khi có thai, tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe của người mẹ có ảnh hưởng trực tiếp đến thai nhi. Nếu thiếu dinh dưỡng, trẻ chậm lớn và tuổi dậy thì cũng muộn hơn so với trẻ đủ dinh dưỡng. Còn nếu thiếu các vi chất dinh dưỡng, làm tăng rủi ro phát triển chiều cao, thiếu i-ốt làm giảm khả năng phát triển trí não, thai chết lưu.

Do đó, khẩu phần ăn của người mẹ cần được cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng để phát triển tốt về cân nặng và chiều cao, hình thành các cơ quan, bộ phận một cách đầy đủ và khỏe mạnh, đặc biệt là các tế bào thần kinh (nếu ăn uống thiếu rau quả tươi, sẽ dẫn tới thiếu acid folic (sinh tố B9) trong vài tháng đầu của thai kỳ, em bé sinh ra có thể bị nứt ống thần kinh tủy sống, một dị tật nghiêm trọng).
Bà mẹ mang thai cần ăn đa dạng các loại thực phẩm, đủ về số lượng và cân đối về chất lượng để có thể tăng 10 - 12 kg trong suốt thai kỳ. Muốn vậy, bà mẹ cần ăn thêm bữa và tăng chất lượng bữa ăn. Những chất dinh dưỡng hay bị thiếu là sắt (có nhiều trong huyết, gan, trứng, nhất là trong lòng đỏ trứng, thịt bò, rau đay, rau dền), chất đạm (thịt, cá, trứng, sữa, các loại đậu...), canxi (sữa, cá loại cá tép nhỏ ăn cả xương, nghêu, sò, ốc, hến...). Đây là những chất quan trọng vì giúp tạo tế bào, mô, máu và xương cho thai nhi. Thai nhi nếu được nuôi dưỡng đầy đủ, khi sinh ra sẽ cân nặng khoảng 3.000 - 3.500 gr và chiều cao sẽ trên 50 cm. Đây là tiền đề cho sự phát triển tốt tầm vóc và trí lực của trẻ sau này.

Ảnh hưởng cả giống nòi

Theo bác sĩ Phó Đức Nhuận, Bệnh viện Phụ sản Trung ương, thai phụ cần phải được ăn no, thèm thức ăn gì thì ăn nấy, không nên kiêng. Trường hợp không ăn được nhiều hơn lúc bình thường, nên cố gắng thay đổi món ăn, thay cách chế biến để ăn cho ngon miệng, tăng cường nghỉ ngơi để bớt tiêu hao năng lượng.

Theo tiến sĩ Hợp, dinh dưỡng bị thiếu hụt bắt đầu từ trong bào thai, ảnh hưởng suốt cuộc đời, đặc biệt là các em gái và phụ nữ, tác động không chỉ cuộc đời một người tức là bản thân của người phụ nữ đó mà cả thế hệ mai sau. Kết quả của nhiều nghiên cứu cho thấy, các bà mẹ thiếu năng lượng sẽ sinh ra những đứa con nhẹ cân (dưới 2,5 kg), suy dinh dưỡng bào thai, ít sữa khiến đứa trẻ sinh ra cũng dễ bị suy dinh dưỡng. Trẻ bị suy dinh dưỡng khi nhỏ, đặc biệt là trong hai năm đầu sau khi sinh, sẽ có nguy cơ cao trở thành những vị thành niên còi cọc. Nữ vị thành niên còi cọc sẽ có nguy có phát triển thành người thấp bé, nhẹ cân và hậu quả là lại sinh ra những trẻ bị suy dinh dưỡng bào thai. Những trẻ có cân nặng sơ sinh thấp lại có nguy cơ suy dinh dưỡng cao hơn. Đây là vòng xoáy luẩn quẩn của quá trình thiếu hụt dinh dưỡng kéo dài.

Theo Eva

Bài viết cùng chủ đề :
-             Mang thai nên ăn cá gì?
-             Tại sao trứng gà tốt cho bà bầu?
-             Phòng bệnh khi bầu bí bằng thực phẩm
Đọc thêm..
Cá cũng như các loại hải sản nói chung cung cấp nguồn dinh dưỡng dồi dào cho bà bầu và thai nhi tuy nhiên việc ăn uống cần có chọn lọc.




Lợi ích của cá với bà bầu

Chất béo omega 3 dồi dào trong cá cũng như đồ ăn biển cung cấp dưỡng chất cần thiết cho phụ nữ mang thai và giúp trẻ sơ sinh phát triển khỏe mạnh. Một nghiên cứu năm 2002 được công bố trên tạp chí Y học Anh phát hiện ra rằng phụ nữ mang thai ăn cá trong giai đoạn đầu giúp giảm nguy cơ bị sinh non và nhẹ cân. Các nghiên cứu khác cũng cho ra kết quả, omega 3 giúp làm giảm nguy cơ mắc bệnh trầm cảm sau sinh. Và một báo cáo khác năm 2007 tại Lancet – một tạp chí y tế danh tiếng – cũng cho biết, bà bầu ăn nhiều cá giúp tăng khả năng thông minh ở  trẻ. Thậm chí nghiên cứu còn chỉ ra rằng nếu thai phụ không bổ sung đồ ăn biển trong quá trình mang thai, có thể làm chậm quá trình phát triển trí não của thai nhi.

Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) khuyến cáo rằng phụ nữ mang thai nên ăn khoảng 340 gram hải sản nấu chín mỗi tuần. Chú ý rằng cá phải được nấu chín trên 100 độ C và phải được vệ sinh diệt khuẩn trước khi chế biến. Các loại dầu cá như: cá hồi, cá mòi, cá ngừ, cá trích cũng rất giàu axit béo omega-3. Tuy nhiên, bạn nên hạn chế ăn cá ngừ đóng hộp vì những lo ngại về hàm lượng thủy ngân cao. Những loại hải sản khác bà bầu nên bổ sung là tôm, cá nước ngọt, cua, ốc…


Bà bầu nên ăn cá thế nào?
- Chỉ nên ăn dưới 350g các loại thủy hải sản trong một tuần.
- Nên ăn cá đã nấu chín kỹ, không ăn các món cá chưa kỹ như gỏi cá, rất dễ bị các loại virus và vi khuẩn xâm hại.
- Nên ăn những loại cá phải được nuôi từ nguồn nước sạch, không bị nhiễm độc, cá còn tươi, không ăn những loại cá đã chết từ lâu và ươn.
- Nếu không dám chắc cá mà bạn sử dụng có an toàn không nên sử dụng dầu cá để thay thế.
- Sử dụng viên dầu cá trong quá trình mang thai, sẽ sinh ra những đứa con có đôi mắt sáng hơn so với những trẻ khác. Về liều lượng sử dụng viên dầu cá bạn cần tham khảo thêm ý kiến bác sĩ.
Những lưu ý khi bà bầu ăn cá
Bà bầu cần tuyệt đối tránh với những đồ ăn biển sống, tái chín vì trong đồ ăn sống có chứa rất nhiều vi khuẩn và ký sinh trùng bao gồm salmonella, toxoplasmosis, sán… có hại cho sức khỏe. Thực phẩm để đông lạnh rồi nấu chín sẽ tiêu diệt các loại ký sinh trùng và an toàn cho việc sử dụng.
Theo Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA), phụ nữ mang thai, chuẩn bị mang thai và đang cho con bú nên hạn chế các loại cá như cá mập, cá kiếm, cá thu vua, cá lát vì chúng có chứa hàm lượng thủy ngân rất cao – đặc biệt gây tổn thương cho trẻ em đang còn bú sữa mẹ.

Theo Eva

Bài viết cùng chủ đề:

Mang thai nên ăn cá gì?

Cá cũng như các loại hải sản nói chung cung cấp nguồn dinh dưỡng dồi dào cho bà bầu và thai nhi tuy nhiên việc ăn uống cần có chọn lọc.




Lợi ích của cá với bà bầu

Chất béo omega 3 dồi dào trong cá cũng như đồ ăn biển cung cấp dưỡng chất cần thiết cho phụ nữ mang thai và giúp trẻ sơ sinh phát triển khỏe mạnh. Một nghiên cứu năm 2002 được công bố trên tạp chí Y học Anh phát hiện ra rằng phụ nữ mang thai ăn cá trong giai đoạn đầu giúp giảm nguy cơ bị sinh non và nhẹ cân. Các nghiên cứu khác cũng cho ra kết quả, omega 3 giúp làm giảm nguy cơ mắc bệnh trầm cảm sau sinh. Và một báo cáo khác năm 2007 tại Lancet – một tạp chí y tế danh tiếng – cũng cho biết, bà bầu ăn nhiều cá giúp tăng khả năng thông minh ở  trẻ. Thậm chí nghiên cứu còn chỉ ra rằng nếu thai phụ không bổ sung đồ ăn biển trong quá trình mang thai, có thể làm chậm quá trình phát triển trí não của thai nhi.

Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) khuyến cáo rằng phụ nữ mang thai nên ăn khoảng 340 gram hải sản nấu chín mỗi tuần. Chú ý rằng cá phải được nấu chín trên 100 độ C và phải được vệ sinh diệt khuẩn trước khi chế biến. Các loại dầu cá như: cá hồi, cá mòi, cá ngừ, cá trích cũng rất giàu axit béo omega-3. Tuy nhiên, bạn nên hạn chế ăn cá ngừ đóng hộp vì những lo ngại về hàm lượng thủy ngân cao. Những loại hải sản khác bà bầu nên bổ sung là tôm, cá nước ngọt, cua, ốc…


Bà bầu nên ăn cá thế nào?
- Chỉ nên ăn dưới 350g các loại thủy hải sản trong một tuần.
- Nên ăn cá đã nấu chín kỹ, không ăn các món cá chưa kỹ như gỏi cá, rất dễ bị các loại virus và vi khuẩn xâm hại.
- Nên ăn những loại cá phải được nuôi từ nguồn nước sạch, không bị nhiễm độc, cá còn tươi, không ăn những loại cá đã chết từ lâu và ươn.
- Nếu không dám chắc cá mà bạn sử dụng có an toàn không nên sử dụng dầu cá để thay thế.
- Sử dụng viên dầu cá trong quá trình mang thai, sẽ sinh ra những đứa con có đôi mắt sáng hơn so với những trẻ khác. Về liều lượng sử dụng viên dầu cá bạn cần tham khảo thêm ý kiến bác sĩ.
Những lưu ý khi bà bầu ăn cá
Bà bầu cần tuyệt đối tránh với những đồ ăn biển sống, tái chín vì trong đồ ăn sống có chứa rất nhiều vi khuẩn và ký sinh trùng bao gồm salmonella, toxoplasmosis, sán… có hại cho sức khỏe. Thực phẩm để đông lạnh rồi nấu chín sẽ tiêu diệt các loại ký sinh trùng và an toàn cho việc sử dụng.
Theo Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA), phụ nữ mang thai, chuẩn bị mang thai và đang cho con bú nên hạn chế các loại cá như cá mập, cá kiếm, cá thu vua, cá lát vì chúng có chứa hàm lượng thủy ngân rất cao – đặc biệt gây tổn thương cho trẻ em đang còn bú sữa mẹ.

Theo Eva

Bài viết cùng chủ đề:
Đọc thêm..
Bạn đã biết cách chọn cá tươi ngon, cách bảo quản cá, cách chế biến là khâu cuối cùng để gia đình bạn có được bữa ăn ngon miệng.
- Làm cá đông lạnh thành cá tươi: Khi bạn nấu cá đã qua đông lạnh, bạn cho một ít sữa bò vào nồi cá. Như vậy, cá sẽ có mùi vị như cá tươi.

- Nấu canh cá: Trước hết, cho gia vị vào nước nấu sôi, sau đó cho cá vào, cho một thìa canh sữa bò, vừa làm mất mùi tanh của cá, vừa làm cho thịt cá mềm có mùi thơm ngon.

- Làm mất mùi tanh khi nấu canh: Khi nấu cá, bạn cho vào mấy hạt táo tàu, sẽ làm mất mùi tanh và tăng thêm hương vị.



- Rán cá: Trước hết hãy làm sạch cá, dùng vải hoặc giấy thấm khô nước, để tránh nổ khi rán cá và tránh nát da cá. Sau đó, lấy một nhát gừng tươi xát đi xát lại lòng chảo nóng, rồi cho dầu vào đợi dầu sôi mới cho cá vào thì sẽ không bị nát da cá. Khi rán cá, chú ý cho lửa nhỏ, rán xong một bên, lật sang bên khác, đợi khi hai bên đều vàng thì lấy ra đĩa.

- Để rán cá không nát: Rán cá cắt miếng thường hay bị nát. Để tránh điều này, trước hết hãy ướp cá với muối 10-15p, sau đó mới dùng dầu rán.

- Chưng cá, thịt: Khi chưng cá, thịt không được để nhỏ lửa. Trước khi chưng nhất thiết phải nấu nước sôi trước, sau đó bỏ cá, thịt vào chưng. Chưng như vậy cá và thịt tươi ngon, mùi vị thơm, miếng ca, thịt lại nguyên, đẹp.

- Làm vẩy cá nhanh: Thả con cá vào trong nước lã có giấm (mỗi lít nước cho 10g giấm), để 2 giờ rồi đưa ra cạo, vẩy cá sẽ dễ lóc ra. Riêng đối với cá ngần, trước hết hãy thả cá ngâm mấy phút trong nước nóng khoảng 80 độ C, vớt ra lập tức cho vào nước lã, sau đó dùng bàn chải để chải hoặc vuôt, vẩy cá sẽ đi hết rất nhanh.

- Biến cá mặn thành nhạt: Nếu bạn muốn làm cá mặn thành nhạt thì hãy ngâm cá mặn vào nước ngọt, nồng độ muối cao trong cá mặn sẽ thoát dần vào nước ngọt. Xử lý như vậy, cá sẽ nhạt đi nhiều. Hoặc sau khi làm sạch cá, bạn ngâm vào rượu gạo 2-3 giờ, cá sẽ không còn mặn nữa.

- Khử mùi tanh: Khi rán cá nước ngọt, bạn cho cá vào ngâm với rượu nếp một lúc, sau đó mới bọc bột để rán, như vậy mùi tanh sẽ không còn nữa.

Cá sông ngoài mùi tanh của cá còn mùi tanh của bùn. Để khử mùi này ngoài cách thường là dùng nước muối để rửa hoặc dùng muối xát lên cá, nếu vào mùa hè, bạn có thể ngâm cá đã mổ sạch vào nước lạnh có pha một ít giấm hoặc trộn một ít hạt tiêu hay lá nguyệt quế. Khi chế biến, cá sẽ không còn tanh.

Cá sau khi đã mổ và làm sạch, dùng rượu nho đỏ để ướp một lúc, mùi thơm của rượu sẽ làm cá hết mùi tanh.

Dọc hai bên sống lưng của cá chép có 1 sợi gân trắng, chính sợi gân này gây nên mùi tanh. Khi làm cá, cắt sát mang cá một miếng nhỏ, bạn sẽ thấy đường gân này lộ ra. Bạn dùng nhíp kẹp chặt rồi rút nhẹ ra, lúc chế biến, cá chép sẽ không còn tanh.

- Dùng rượu hoặc carbonat natri để khử sạch mật cá: Khi làm cá không may làm vỡ mật, bạn có thể dùng 2 chất này xoa vào chỗ mật cá dính, để một lúc rồi rửa sạch bằng nước, vị đắng của mật sẽ mất.
Theo 1000 mẹo vặt gia đình

Bài viết cùng chủ đề:

Mẹo hay chế biến cá

Bạn đã biết cách chọn cá tươi ngon, cách bảo quản cá, cách chế biến là khâu cuối cùng để gia đình bạn có được bữa ăn ngon miệng.
- Làm cá đông lạnh thành cá tươi: Khi bạn nấu cá đã qua đông lạnh, bạn cho một ít sữa bò vào nồi cá. Như vậy, cá sẽ có mùi vị như cá tươi.

- Nấu canh cá: Trước hết, cho gia vị vào nước nấu sôi, sau đó cho cá vào, cho một thìa canh sữa bò, vừa làm mất mùi tanh của cá, vừa làm cho thịt cá mềm có mùi thơm ngon.

- Làm mất mùi tanh khi nấu canh: Khi nấu cá, bạn cho vào mấy hạt táo tàu, sẽ làm mất mùi tanh và tăng thêm hương vị.



- Rán cá: Trước hết hãy làm sạch cá, dùng vải hoặc giấy thấm khô nước, để tránh nổ khi rán cá và tránh nát da cá. Sau đó, lấy một nhát gừng tươi xát đi xát lại lòng chảo nóng, rồi cho dầu vào đợi dầu sôi mới cho cá vào thì sẽ không bị nát da cá. Khi rán cá, chú ý cho lửa nhỏ, rán xong một bên, lật sang bên khác, đợi khi hai bên đều vàng thì lấy ra đĩa.

- Để rán cá không nát: Rán cá cắt miếng thường hay bị nát. Để tránh điều này, trước hết hãy ướp cá với muối 10-15p, sau đó mới dùng dầu rán.

- Chưng cá, thịt: Khi chưng cá, thịt không được để nhỏ lửa. Trước khi chưng nhất thiết phải nấu nước sôi trước, sau đó bỏ cá, thịt vào chưng. Chưng như vậy cá và thịt tươi ngon, mùi vị thơm, miếng ca, thịt lại nguyên, đẹp.

- Làm vẩy cá nhanh: Thả con cá vào trong nước lã có giấm (mỗi lít nước cho 10g giấm), để 2 giờ rồi đưa ra cạo, vẩy cá sẽ dễ lóc ra. Riêng đối với cá ngần, trước hết hãy thả cá ngâm mấy phút trong nước nóng khoảng 80 độ C, vớt ra lập tức cho vào nước lã, sau đó dùng bàn chải để chải hoặc vuôt, vẩy cá sẽ đi hết rất nhanh.

- Biến cá mặn thành nhạt: Nếu bạn muốn làm cá mặn thành nhạt thì hãy ngâm cá mặn vào nước ngọt, nồng độ muối cao trong cá mặn sẽ thoát dần vào nước ngọt. Xử lý như vậy, cá sẽ nhạt đi nhiều. Hoặc sau khi làm sạch cá, bạn ngâm vào rượu gạo 2-3 giờ, cá sẽ không còn mặn nữa.

- Khử mùi tanh: Khi rán cá nước ngọt, bạn cho cá vào ngâm với rượu nếp một lúc, sau đó mới bọc bột để rán, như vậy mùi tanh sẽ không còn nữa.

Cá sông ngoài mùi tanh của cá còn mùi tanh của bùn. Để khử mùi này ngoài cách thường là dùng nước muối để rửa hoặc dùng muối xát lên cá, nếu vào mùa hè, bạn có thể ngâm cá đã mổ sạch vào nước lạnh có pha một ít giấm hoặc trộn một ít hạt tiêu hay lá nguyệt quế. Khi chế biến, cá sẽ không còn tanh.

Cá sau khi đã mổ và làm sạch, dùng rượu nho đỏ để ướp một lúc, mùi thơm của rượu sẽ làm cá hết mùi tanh.

Dọc hai bên sống lưng của cá chép có 1 sợi gân trắng, chính sợi gân này gây nên mùi tanh. Khi làm cá, cắt sát mang cá một miếng nhỏ, bạn sẽ thấy đường gân này lộ ra. Bạn dùng nhíp kẹp chặt rồi rút nhẹ ra, lúc chế biến, cá chép sẽ không còn tanh.

- Dùng rượu hoặc carbonat natri để khử sạch mật cá: Khi làm cá không may làm vỡ mật, bạn có thể dùng 2 chất này xoa vào chỗ mật cá dính, để một lúc rồi rửa sạch bằng nước, vị đắng của mật sẽ mất.
Theo 1000 mẹo vặt gia đình

Bài viết cùng chủ đề:

Đọc thêm..